Án lệ của Amway
Không có phán quyết pháp lý nào lại có nhiều tác động đến ngành kinh
doanh bán hàng trực tiếp hơn trường hợp án lệ của FTC với Amway (Amway
bị kiện). Vào 1975, FTC buộc tội Amway được điều hành theo cơ cấu hình
tháp ảo. Sau bốn năm kiện tụng, đến năm 1979, Amway thắng kiện. Chánh
án toà án tối cao đã phán quyết rằng chương trình KDTM của Amway là một
cơ hội kinh doanh hợp pháp trái ngược với một sơ đồ hình tháp ảo. Jeffrey Babener
Ngành KDTM chịu ơn Amway
Không
có phán quyết pháp lý nào lại có nhiều tác động đến ngành kinh doanh
bán hàng trực tiếp hơn trường hợp án lệ của FTC với Amway (Amway bị
kiện). Vào 1975, FTC buộc tội Amway được điều hành theo cơ cấu hình
tháp ảo. Sau bốn năm kiện tụng, đến năm 1979, Amway thắng kiện. Chánh
án toà án tối cao đã phán quyết rằng chương trình KDTM của Amway là một
cơ hội kinh doanh hợp pháp trái ngược với một sơ đồ hình tháp ảo.
Nếu
như Amway thua, lịch sử KDTM kể từ sau 1979 đến nay có thể đã không tồn
tại. Chiến thắng của Amway đã mở đường cho hàng trăm công ty KDTM tiến
theo sau. Quyết định này có vai trò quan trọng đến nỗi: FTC trong suốt
20 năm sau chỉ nhắm bắn vào những động thái "dễ lầm lẫn" của các công
ty KDTM chẳng hạn như những khiếu nại về sơ đồ lợi tức hoặc y học hơn
là tấn công vào "cơ cấu" của chương trình KDTM. Ngành KDTM thật sự đã
nợ Amway ơn sâu.
Những vụ kiện" Hình tháp ảo "
KDTM/kinh
doanh đa cấp/bán hàng trực tiếp vẫn tiến theo lộ trình an toàn và hợp
pháp cho đến khi những hình tháp ảo xuất hiện và sinh sôi nảy nở trong
bối cảnh thập niên 70. Một chương trình có tên gọi "Dare to be great"
được Glen W.Turner quảng bá rộng rãi là ví dụ. Như những sơ đồ hình
tháp ảo khác, "mặt hàng" duy nhất được phân phối thông qua chương trình
này là tiền. Không có những hàng hóa hoặc dịch vụ hữu hình nào được bán
với mức giá phải chăng của thị trường kèm theo những hoạt động tuyển
mộ. Thực tế tại mỗi bang đều đã có những công dân bị chương trình này
cùng những chương trình khác tác động mà đa số cơ quan chính quyền đều
thống nhất chúng thực chất là những sơ đồ "treo cổ". FTC đã thiết lập
những nguyên tắc chỉ đạo điều chỉnh những sơ đồ hình tháp ảo và dây
chuyền điều hành bất hợp pháp khác từ rất sớm: trong vụ kiện công ty
Koscot Interplanetary Inc (1975), FTC công kích mạnh mẽ :
* Những chi phí tham gia Lớn,
* Áp đặt tích luỹ và mua hàng dự trữ
* Những chương trình trong đó những nhà phân phối bị lầm đường lạc lối
vào những ma trận hoa hồng lớn mà họ tin rằng có thể kiếm được
*
Những chương trình trong đó hoa hồng không được tính dựa vào doanh số
của việc bán sản phẩm tới những người tiêu dùng cuối cùng.
Uỷ
ban an ninh về chi trả hoa hồng(SEC) cũng can thiệp vào toàn cục của
“Dare to be Great” chứng minh rằng những quy chế an toàn cũng cần áp
dụng vào ngành KDTM. Trong vụ kiện giữa SEC và Glen W Turner Inc.,
(1973) Toà phúc thẩm Ninth Circiut, Mỹ tái khẳng định rằng những động
thái an ninh là "được thiết lập để bảo vệ công chúng Mỹ khỏi của những
kẻ chủ mưu thiết lập sơ đồ mưu đồ gian lận". Chương trình “Dare to be
great” được xem như một "Hợp đồng đầu tư " được kiểm soát bởi những chế
luật về an toàn cho người tiêu dùng và vì vậy nó nằm trong sự điều
chỉnh của SEC. Đây là một án lệ thiết lập sự phân biệt giữa "những sơ
đồ gian lận hoặc thiếu minh bạch" và những hoạt động bán hàng trực tiếp
hợp pháp. Vụ việc này cũng góp phần xác lập vai trò của SEC trong việc
ủng hộ quyền lợi của những công ty hợp pháp và đồng thời có quyền truy
tố những kẻ phạm tội.
The Koscot, Dare To Be Great và những
trường hợp hình tháp ảo khác đã để lại vị chua trong miệng công chúng
Mỹ. Những án quyết trong suốt đầu thập niên 70 là nốt lặng trong lịch
sử hợp pháp của ngành KDTM. Kết quả của những động thái này phần nào
cho thấy, ngành KDTM đã bị thiệt thòi do thiên kiến của những quan chức
chính quyền. Những nhà lập pháp và những thẩm phán của bang nói chung
thường tự dành cho họ cái quyền loại trừ tất cả các hình thức hoạt động
bán hàng trực tiếp với mục đích cố gắng không chừa đường thoát cho
những sơ đồ hình tháp bất hợp pháp hoặc những kẻ bán hàng bất lương
nhằm đảm bảo khuôn khổ điều hành của Bang. Thực tế các bang đều thông
qua những quy chế về "hình tháp ảo" mà, không may, thường là mập mờ và
không rõ ràng đến mức trở nên cưỡng chế chuyên quyền và bất nhất. Chính
ngành KDTM cũng bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng kết hợp những đạo luật về
cơ hội kinh doanh, những quy chế an ninh nhượng quyền, về xổ số, và
những quy chế ưu tiên cũng như chính sách cưỡng chế do Cục Bưu chính Mỹ
thông qua trong luật xổ số và luật chống gian lận của nó.
Quy tắc bảo vệ của Amway
Việc
FTC truy tố Amway vào giữa thập niên 70 tưởng như đã là chiếc hòm tẩm
liệm toàn bộ KDTM/ Kinh doanh đa cấp / công nghiệp bán hàng trực tiếp.
Trong vụ Amway, vào năm 1979, FTC đã cố buộc Amway là một sơ đồ hình
tháp ảo và, vì thế, theo quy định trong luật bảo vệ người tiêu dùng của
FTC thì đó là một doanh nghiệp bất chính và lừa bịp.
Vụ kiện này
đã kéo dài trong nhiều năm. Amway cuối cùng cũng thắng kiện, và trong
quyết định của toà án 1979 phán quyết rằng phương pháp tiếp thị của nó
là một cơ hội kinh doanh hợp pháp. Quyết định này sau đó trở thành "Quy
tắc an toàn Amway", mà hiện nay là một trong những tiêu chuẩn pháp lý
quan trọng nhất mà những toà án và các cơ quan hành pháp xác định là cơ
sở hợp pháp cho một doanh nghiệp KDTM/Kinh doanh đa cấp/bán hàng trực
tiếp.
Trong quyết định của Toà án tối cao, hoạt động kinh doanh của Amway được chỉ ra ba đặc tính tốt :
1.Amway
yêu cầu các nhà phân phối của nó tiến hành bán lẻ, theo chính sách
"Mười chính sách khách hàng bán lẻ" nằm trong hợp đồng mà những nhà
phân phối ký xin tham gia. Quy tắc này yêu cầu rằng những nhà phân phối
phải có doanh số bán lẻ 10 mặt hàng mới đượcc xem là đủ tiêu chuẩn để
nhận những khoản hoa hồng và tiền thưởng đối với doanh số/ lợi tức
đươợc làm ra từ nhà phân phối khác trong mạng lưới kinh doanh của họ.
2.Amway
yêu cầu các nhà phân phối của nó phải bán được tối thiểu 70% sản phẩm
được mua trong đơn đặt hàng cũ trước khi đặt mua hàng mới. (quy định
của Amway cho thấy yêu cầu "việc sử dụng của cá nhân" trong mục đích
của quy tắc 70%)
3.Amway có một chính sách" trả lại hàng" công khai
cho những hàng hoá không bán hoặc không xuất kho được. Chính sách này
cho phép những giới hạn hợp lý, bao gồm cả một khoản thời gian nhất
định tối đa kể từ khi nhà phân phối mua hàng từ công ty và hàng hoá đó
hiện thời vẫn còn trong danh sách công ty cung cấp cho khách hàng. N
cũng quy định một chi phí "tái nhập kho” tối thiểu. Những chính sách về
việc “trả lại hàng” đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ của họ cho
những nhà phân phối quyết định chấm dứt hợp đồng với một công ty, và
không muốn bị "kẹt" với hàng tồn không bán đơược.
Thông qua việc
tuân theo ba tiêu chuẩn này, những công ty KDTM và bán hàng trực tiếp
mang theo cho mình "chiếc ô bảo hộ hợp pháp ". “Quy tắc an toàn Amway”
đã được trích dẫn thành công nhiều lần sau đó kể từ năm 1979 làm rào
chắn bảo vệ của những công ty hoạt động hợp pháp.
Vụ kiện Amway vẫn còn là án lệ
Hơn
hai thập niên sau, quyết định Amway vẫn được trích dẫn trong mỗi trường
hợp thực tế của liên bang hoặc mỗi bang khi có liên quan đến một công
ty KDTM. Mặc dù sự căng thẳng sẽ luôn luôn tồn tại giữa ngành kinh
doanh và chính phủ qua định nghĩa thế nào là "doanh số bán lẻ" chẳng
hạn như: dùng cho nhà phân phối hay dùng cho cá nhân không tham gia…
Những quy tắc bảo vệ của Amway vẫn tiếp tục là "chuẩn mực vàng" trong
việc đánh giá sự khác nhau giữa KDTM hợp pháp và những hình tháp bất
hợp pháp.
- 09/05/2010 07:32 - Các ứng dụng mới của Amway trên Iphone
- 05/05/2010 19:55 - Lời bộc bạch của một tỷ phú (Eric Worre) trong ngành MLM quốc tế
- 11/04/2010 01:15 - Tọa đàm về bán hàng đa cấp ở Việt Nam
- 08/04/2010 13:23 - Ra mắt Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam
- 07/04/2010 09:46 - Hiệp hội Bán hàng Đa cấp Việt Nam (MLMA) ra đời: Kỳ vọng về sức sống một ngành nghề
- 31/03/2010 07:22 - Doris Wood- Đại thụ của ngành KDTM
- 31/03/2010 07:21 - Keith Laggos
- 31/03/2010 07:18 - Những hiệp hội kinh doanh nổi bật của ngành KDTM - DSA và MLMIA
- 31/03/2010 07:16 - Michael L. Sheffield














